Cẩn thận nhiễm độc thủy ngân khi ăn cá

EWG đã tiến hành lấy mẫu tóc của 254 phụ nữ trong độ tuổi mang thai từ 40 bang khác nhau, những người ăn cá hơn mức khuyến nghị của chính phủ.. 

Nhiều người thường xuyên ăn cá có nồng độ thủy ngân vượt mức cho phép
Tại Mỹ, EWG (Nhóm Công tác Môi trường) đang thúc giục chính phủ thắt chặt hơn khuyến nghị về các loại cá mà phụ nữ mang thai nên ăn, xuất phát từ lo ngại nhiễm độc thủy ngân – theo một nghiên cứu mới đây của chính EWG.
Trước đó, trong dự thảo khuyến nghị năm 2014 của FDA (Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ) và EPA (Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ), phụ nữ dự định có thai, đang có thai hay cho con bú nên ăn 2-3 bữa cá (226-340g) mỗi tuần, và phải là loại có hàm lượng thủy ngân thấp.

Cũng theo dự thảo này, các loại cá có hàm lượng thủy ngân phù hợp nên ăn là cá hồi, tôm, cá minh thái (cá Pollock), cá ngừ đóng hộp, cá rô phi, cá trê và cá tuyết.
Các loại cá nên tránh là cá đổng quéo (tilefish), cá mập, cá kiếm và cá thu vua. Các hướng dẫn khuyên giới hạn cá ngừ trắng là 170g/tuần.
Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây của EWG lại cho thấy hướng dẫn nêu trên vẫn chưa cụ thể, hậu quả là nhiều phụ nữ ăn quá nhiều những loại cá không nên ăn, đặc biệt là một số loại cá ngừ khác.

EWG đã tiến hành lấy mẫu tóc của 254 phụ nữ trong độ tuổi mang thai từ 40 bang khác nhau, những người ăn cá hơn mức khuyến nghị của chính phủ (hơn nhiều hoặc hơn ít) trong vòng 2 tháng.
Kết quả cho thấy tới 29% trong số này có nồng độ thủy ngân trong cơ thể vượt quá ngưỡng an toàn của EPA là 1 phần triệu (1 ppm).
Theo quan điểm của EWG, giới hạn nồng độ thuỷ ngân nên ở mức 0.58 ppm.
Ông Philippe Grandjean, Giáo sư kiêm nhiệm tại trường Harvard T.H.Chan, người đã tiến hành kiểm tra và phân tích mẫu tóc trong nghiên cứu của EWG cho biết 60% số người tham gia nghiên cứu có hàm lượng thủy ngân vượt qua mức 0.58 ppm này.
Cũng theo Giáo sư Grandjean, ngưỡng 1 ppm được đưa ra là dựa trên các nghiên cứu từ năm 2000. Vào năm 2007, nghiên cứu cho thấy mức hợp lý phải là 0.58 ppm.
Nghiên cứu cho thấy nồng độ thủy ngân trong cơ thể những phụ nữ thường xuyên ăn cá cao hơn 11 lần những phụ nữ ít ăn.
Mặc dù những người tham gia nghiên cứu ăn lượng cá gấp 2 lần mức bình quân của người Mỹ, thì 60% nói trên đã không nhận được lợi ích từ axit omega-3 khi ăn cá.
Ông Grandjean cho rằng: “Đây là kết quả thực sự đáng buồn. Nó có nghĩa những phụ nữ đó đã ăn sai loại cá nên ăn, mà lại nghĩ rằng mình đang có chế độ ăn cân bằng và tốt cho sức khoẻ.”